ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH, HIỆU CHUẨN, THỬ NGHIỆM PHƯƠNG TIỆN, THIẾT BỊ KỸ THUẬT NGHIỆP VỤ TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN-Đại tá TS. Nguyễn Văn Phương Trung tâm kiểm định - Cục Công nghiệp an ninh - Bộ Công an
Cập nhật: 28/10/2026 | 1:27:26 PM 

Bài viết đề xuất mô hình tổ chức và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong ngành công an nhân dân.
ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH, HIỆU CHUẨN, THỬ NGHIỆM PHƯƠNG TIỆN, THIẾT BỊ KỸ THUẬT NGHIỆP VỤ TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN
Đại tá TS. Nguyễn Văn Phương
Trung tâm kiểm định - Cục Công nghiệp an ninh - Bộ Công an
1 Đặt vấn đề
Phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ cung cấp các kết quả đo về tốc độ, nồng độ cồn, tải trọng, môi trường, áp suất, nhiệt độ, bức xạ và tần số vô tuyến điện phục vụ hoạt động của Công an nhân dân. Khi những kết quả này được sử dụng để xác định hành vi vi phạm, sai số hoặc sự thiếu nhất quán của dữ liệu có thể làm thay đổi việc đánh giá một tình huống cụ thể. Bảo đảm độ tin cậy của phép đo vì vậy gắn trực tiếp với yêu cầu thực thi pháp luật chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời bảo vệ cán bộ thực hiện nhiệm vụ.
Thông tư số 150/2026/TT-BCA ngày 28/8/2026 của Bộ trưởng Bộ Công an, có hiệu lực từ ngày 28/8/2026, quy định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính phải kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, so sánh trước khi đưa vào sử dụng trong Công an nhân dân. Phụ lục I gồm 59 mục, với nhiều nguyên lý đo và điều kiện khai thác khác nhau [1]. Để triển khai danh mục này có hiệu quả, cần tổ chức năng lực kỹ thuật theo từng phép đo, kiểm soát được trạng thái thiết bị trong quá trình sử dụng và có cơ chế phát hiện sớm kết quả không còn đáng tin cậy.
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản và tổng hợp yêu cầu kỹ thuật, tập trung vào Phụ lục I của Thông tư. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình tổ chức và giải pháp nâng cao chất lượng. Các nhận định về nguy cơ sai lệch được trình bày theo đặc tính của phép đo; không được sử dụng như số liệu khảo sát hay kết luận về mức độ vi phạm của các đơn vị đang quản lý, sử dụng thiết bị.
2 Cơ sở đo lường và phân nhóm danh mục
Cần xác định đúng mục đích của từng hoạt động. Kiểm định xác nhận phương tiện đo đáp ứng yêu cầu kỹ thuật đo lường theo quy định áp dụng. Hiệu chuẩn xác lập quan hệ giữa giá trị của chuẩn và số chỉ của phương tiện đo trong điều kiện xác định, kèm thông tin về độ không đảm bảo đo; hiệu chuẩn không đồng nhất với điều chỉnh thiết bị. Thử nghiệm xác định một hoặc nhiều đặc tính theo phương pháp đã lựa chọn. So sánh phục vụ đánh giá sự tương đương hoặc mức độ nhất quán của kết quả theo chương trình cụ thể. Liên kết chuẩn đo lường đòi hỏi chuỗi hiệu chuẩn liên tục, có tài liệu và đóng góp độ không đảm bảo đo phù hợp [2].
Tên của Phụ lục I không có nghĩa mọi thiết bị đều phải thực hiện đồng thời cả bốn hoạt động, hoặc đều có cùng chu kỳ kiểm soát. Đối với từng loại, cần đối chiếu pháp luật về đo lường, danh mục phương tiện đo nhóm 2, quy trình kỹ thuật và quy định chuyên ngành tương ứng. Chứng chỉ hiệu chuẩn không thay thế chứng chỉ kiểm định khi phương tiện thuộc diện phải kiểm định. Tương tự, công nhận năng lực phòng thí nghiệm theo ISO/IEC 17025 và việc đáp ứng điều kiện pháp lý để cung cấp một hoạt động chuyên ngành là những yêu cầu cần được xem xét riêng [1,3].
Để phục vụ xây dựng năng lực, có thể phân 59 mục thành bảy nhóm như Bảng 1. Cách phân nhóm này dựa vào đại lượng đo và nguồn lực kỹ thuật có thể dùng chung; không thay đổi tên gọi, thứ tự hoặc chế độ quản lý pháp lý của danh mục. Thiết bị đa chức năng phải được đánh giá theo từng chức năng và cấu hình thực tế. Những tên gọi gần nhau, như đo độ ồn, cường độ âm thanh hoặc các thiết bị đo bụi, vẫn cần được nhận diện riêng theo mục đích sử dụng và phương pháp áp dụng.
Bảng 1 Phân nhóm kỹ thuật bao quát 59 mục tại Phụ lục I [1]
|
Nhóm kỹ thuật |
Số thứ tự tại Phụ lục I |
Đối tượng và trọng tâm kiểm soát |
|---|---|---|
|
Giao thông đường bộ |
2, 3, 4, 5, 8, 48 |
Tải trọng, tốc độ có hình ảnh, nồng độ cồn, khoảng cách khi xe chạy, hiệu quả phanh, độ rơ góc vô lăng. Trọng tâm là phép đo động và điều kiện sử dụng thực tế. |
|
Độ dài định vị thời gian và hình học phương tiện |
1, 6, 12–19, 27, 28, 31, 44, 58 |
Độ dài, định vị vệ tinh, thủy bình, thước chuyên dùng đường sắt, thời gian, độ sâu, dòng chảy, tải trọng trục toa xe, độ dày vỏ tàu, khoảng cách và độ dốc. |
|
Môi trường âm học rung và vi khí hậu |
9, 10, 20–26, 29, 43, 52, 56 |
Độ ồn, khí thải, gió, nước, bụi, rung, phép đo thủ công thông số môi trường, cường độ âm thanh và vi khí hậu. Cần kiểm soát khâu lấy mẫu, độ chọn lọc và điều kiện đo. |
|
Thiết bị phục vụ PCCC |
30, 35, 36, 41, 42, 45, 46 |
Thử đầu báo cháy; điện trở chống sét; khí nguy hiểm cháy, nổ; thông gió và hút khói; nhiệt độ từ xa; độ dày sơn chống cháy và đường ống. |
|
Cơ nhiệt điện quang và lưu lượng dùng chung |
7, 11, 32–34, 37–40 |
Áp suất khí nén, cường độ ánh sáng, lưu lượng chất lỏng, cân, áp suất chất lỏng và khí, dòng điện, điện trở, mức chất lỏng, mực nước, áp suất không khí dư. |
|
Bức xạ và phóng xạ |
47, 49 |
Thiết bị ghi đo bức xạ và đo phóng xạ. Cần chuẩn phù hợp với đại lượng, loại bức xạ, năng lượng và điều kiện an toàn. |
|
Viba điện từ trường và vô tuyến điện |
50, 51, 53–55, 57, 59 |
Đo sóng viba, điện từ trường, phổ tần số, tín hiệu thông tin di động, công suất và tần số vô tuyến điện; trạm kiểm soát vệ tinh, tần số vô tuyến điện. |
3 Các yêu cầu kỹ thuật cần ưu tiên
3.1 Kiểm soát phép đo giao thông trong điều kiện động
Đối với phương tiện đo tốc độ có ghi hình ảnh, chất lượng cần được xem xét đồng thời ở giá trị tốc độ, việc gắn kết quả với đúng phương tiện và tính nhất quán của bản ghi. Radar, laser, phép đo dựa trên hình ảnh hoặc thời gian hành trình có các nguồn sai số khác nhau; lựa chọn phương pháp phải theo nguyên lý và phạm vi quy trình áp dụng. Khi đánh giá tại hiện trường, cần kiểm soát hình học lắp đặt, hướng đo, điều kiện đồng bộ thời gian và cách nhận diện phương tiện trong tình huống nhiều làn hoặc che khuất. ĐLVN 157:2023 là tài liệu kỹ thuật cần đối chiếu trong phạm vi áp dụng của quy trình [4].
Có thể nghiên cứu hệ thống mô phỏng mục tiêu, thiết bị chuẩn cơ động và giao diện trích xuất dữ liệu để giảm thời gian thao tác tại hiện trường. Tuy nhiên, mô phỏng chỉ đánh giá được những khâu thực sự nằm trong chuỗi tín hiệu thử. Phương pháp mới cần được xác nhận giá trị sử dụng, lượng hóa độ không đảm bảo đo và được chấp nhận theo thẩm quyền trước khi dùng thay phương pháp kiểm định quy định. OIML R 91-1:2025 cung cấp cơ sở tham khảo về bảo vệ phần mềm, tham số và hồ sơ dữ liệu của phép đo tốc độ; đây là khuyến nghị kỹ thuật quốc tế, không tự động thay thế quy trình trong nước [5].
Đối với phương tiện đo nồng độ cồn, cần kiểm soát giá trị và độ ổn định của chất chuẩn, hệ thống tạo khí thử, đơn vị đo, điều kiện nhiệt độ, lưu lượng và đặc tính lấy mẫu theo phương pháp áp dụng. Việc thử tại một điểm nồng độ chưa đủ đại diện cho toàn bộ phạm vi đo. Các ảnh hưởng như trôi điểm không, hiệu ứng nhớ và chất gây nhiễu cần được đánh giá ở mức phù hợp với mục đích kiểm định hoặc thử nghiệm. OIML R 126-1:2021 là tài liệu tham khảo cho việc phát triển năng lực thử nghiệm chuyên sâu [6].
Với cân kiểm tra tải trọng, phải phân biệt cân tĩnh và cân động, kiểm soát tải lệch tâm, tải theo trục, nền đặt cân và chế độ xe đi qua theo yêu cầu của phương pháp. Đối với thiết bị đo hiệu quả phanh, độ rơ vô lăng và khoảng cách giữa hai xe đang chạy, cần mô tả đúng đại lượng đo, cấu hình gá lắp, tần suất lấy mẫu và sai lệch do người thao tác. Những yêu cầu này phải được đưa vào hồ sơ kỹ thuật ngay từ khâu trang bị để tránh mua thiết bị có tính năng sử dụng nhưng thiếu khả năng kiểm tra, duy trì độ chính xác.
3.2 Duy trì độ chính xác của phép đo hình học và định vị
Các thước chuyên dùng đường sắt, phương tiện đo độ dài, thủy bình, độ dốc, khoảng cách và độ dày cần được đánh giá tại các vị trí hoặc mức đo đại diện cho phạm vi sử dụng. Hình dạng bề mặt, điểm tiếp xúc, nhiệt độ và cơ cấu định vị có thể ảnh hưởng rõ đến kết quả. Với phép đo độ dày vỏ tàu hoặc đường ống bằng siêu âm, việc lựa chọn mẫu đối chiếu, vận tốc âm của vật liệu và trạng thái bề mặt phải phù hợp. Kiểm tra bằng một khối chuẩn không tương thích vật liệu có thể không phản ánh đầy đủ sai lệch khi đo thực tế.
Phương tiện đo định vị bằng vệ tinh cần được mô tả theo độ chính xác vị trí, thời gian hoặc vận tốc mà chức năng nghiệp vụ yêu cầu. Phải xem xét hệ quy chiếu, cấu hình hiệu chỉnh và ảnh hưởng đa đường truyền. Thiết bị đo độ sâu, vận tốc dòng chảy và tải trọng trục toa xe cũng cần điều kiện đánh giá tương ứng với nguyên lý hoạt động. Một báo cáo chung ghi “thiết bị hoạt động bình thường” không đủ thay thế kết quả định lượng ở những đại lượng có vai trò quyết định.
3.3 Bảo đảm tính đại diện và độ chọn lọc của phép đo môi trường
Đối với thiết bị đo nhanh nước, nước thải, mặt nước, khí thải, không khí và đo thủ công các thông số môi trường, độ tin cậy phụ thuộc cả quá trình tiếp xúc với đối tượng đo hoặc lấy mẫu. Cần xác định thông số cần đo, nền mẫu, thời gian đáp ứng, điều kiện bảo quản khi có lấy mẫu và chất chuẩn sử dụng. Kết quả từ chế độ sàng lọc nhanh chỉ được dùng theo giá trị pháp lý và phạm vi được quy định; khi quy định hoặc phương pháp yêu cầu xác nhận bằng phép thử khác, phải thực hiện bước xác nhận đó.
Thiết bị đo bụi cần được nhận diện theo đại lượng biểu thị, dải kích thước hạt, nguyên lý đo và điều kiện quy đổi thể tích khí nếu có. Phép đối chiếu bằng tín hiệu điện chỉ kiểm tra được một phần chức năng, chưa mặc nhiên bao quát đầu lấy mẫu và đường khí. Với độ ồn, cường độ âm thanh, rung, gió và vi khí hậu, cần kiểm soát đáp ứng theo tần số hoặc hướng, vị trí đặt đầu đo và ảnh hưởng của môi trường. Kiểm tra trước và sau ca đo bằng phương tiện phù hợp giúp phát hiện biến đổi bất thường giữa hai lần kiểm soát định kỳ.
3.4 Kết hợp hiệu chuẩn đại lượng với thử nghiệm chức năng PCCC
Thiết bị thử, kiểm tra đầu báo cháy tại mục 30 cần được xem xét theo khả năng tạo tác nhân thử và xác nhận đáp ứng của đối tượng trong điều kiện xác định. Một dụng cụ có thể kích hoạt đầu báo chưa đủ để suy ra toàn bộ đặc tính chất lượng của đầu báo hoặc hệ thống báo cháy. Với thiết bị đo khí nguy hiểm cháy, nổ, cần chú ý loại khí, hỗn hợp chuẩn, độ nhạy chéo và đơn vị biểu thị, đặc biệt khi thiết bị hiển thị theo tỷ lệ giới hạn nổ dưới. Kết quả hiệu chuẩn cần nêu rõ cấu hình và đối tượng khí đã đánh giá.
Đối với thiết bị kiểm tra thông gió, lưu lượng hút khói, đo điện trở chống sét, nhiệt độ từ xa, độ dày sơn chống cháy và đường ống, phải kết hợp kiểm soát đại lượng với phương pháp sử dụng. Đo nhiệt độ từ xa cần xét hệ số phát xạ, tỷ số khoảng cách trên kích thước vùng đo và bức xạ phản xạ; đo độ dày lớp phủ cần phù hợp vật liệu nền và dạng bề mặt. Các thiết bị dùng chung như cân, đo áp suất, lưu lượng, dòng điện, điện trở, mức chất lỏng và ánh sáng có thể tổ chức hiệu chuẩn tập trung theo đại lượng, sau đó kiểm tra tính thích hợp tại vị trí khai thác. Cách tổ chức này giúp dùng chung chuẩn mà vẫn giữ yêu cầu riêng của từng nhiệm vụ.
3.5 Xây dựng năng lực chuyên sâu về bức xạ và vô tuyến điện
Với thiết bị ghi đo bức xạ, đo phóng xạ, cần xác định đại lượng đo và loại bức xạ trước khi lựa chọn chuẩn. Việc đánh giá phải xem xét đáp ứng năng lượng, hướng, dải đo và điều kiện an toàn tương ứng. Giai đoạn chưa đủ nguồn chuẩn, nhân lực hoặc điều kiện pháp lý, nên thực hiện thông qua cơ sở chuyên ngành có năng lực phù hợp, đồng thời phát triển năng lực tiếp nhận và đánh giá chứng chỉ tại đơn vị sử dụng.
Thiết bị đo sóng viba, điện từ trường, phân tích phổ, phân tích tín hiệu thông tin di động, đo công suất, thu/đo tần số và trạm kiểm soát vệ tinh, tần số vô tuyến điện có yêu cầu khác nhau về dải tần và chuỗi đo. Cần quản lý cả đầu đo, anten, cáp nối, suy hao, bộ chuyển đổi và nguồn thời gian hoặc tần số tham chiếu khi có liên quan. Với trạm hoặc hệ thống tích hợp, đánh giá từng máy đo riêng lẻ phải gắn với kiểm tra cấu hình hệ thống; hồ sơ kết quả cần xác định rõ phần nào đã được đánh giá và giới hạn của kết luận.
4 Giải pháp tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng
4.1 Chuẩn hóa yêu cầu kỹ thuật theo từng mục danh mục
Trước hết, cần xây dựng cơ sở dữ liệu đối chiếu cho toàn bộ 59 mục, bao gồm loại thiết bị thực có, đại lượng, phạm vi đo, giới hạn sai số, văn bản áp dụng, hình thức kiểm soát, chu kỳ và tổ chức đủ điều kiện thực hiện. Với thiết bị đa chức năng, hồ sơ phải chỉ rõ chức năng đã được kiểm định, hiệu chuẩn hoặc thử nghiệm. Những khoảng trống về quy trình cần được tổng hợp thành nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng phương pháp và đề xuất ban hành theo thẩm quyền; không dùng yêu cầu nội bộ để thay thế quy định pháp luật.
Trong mua sắm, cần quy định khả năng duy trì độ chính xác bên cạnh thông số sử dụng. Nhà cung cấp cần bàn giao tài liệu kỹ thuật, phương pháp kiểm tra, cấu hình phần mềm có ảnh hưởng đến phép đo, yêu cầu chất chuẩn, phụ kiện thử và điều kiện bảo trì. Hội đồng nghiệm thu cần đối chiếu đúng số nhận dạng, phạm vi và cấu hình trên chứng chỉ. Không nên đánh giá đủ điều kiện sử dụng chỉ dựa vào một chứng chỉ có tên thiết bị tương tự nhưng không bao quát chức năng sẽ khai thác.
4.2 Phát triển phòng thí nghiệm theo phạm vi năng lực
Cần xây dựng năng lực theo từng phép đo và mức độ chính xác cần đáp ứng, phù hợp TCVN ISO/IEC 17025:2017 [3]. Hồ sơ năng lực phải thể hiện chuẩn sử dụng, chuỗi liên kết chuẩn, điều kiện môi trường, phương pháp, nhân lực được phân công và khả năng đánh giá độ không đảm bảo đo. Việc mở rộng sang một đại lượng hoặc công nghệ mới phải đi kèm xác nhận năng lực tương ứng; danh mục thiết bị đã đầu tư không tự chứng minh được chất lượng dịch vụ.
Có thể tổ chức mạng lưới gồm cơ sở chuyên sâu, đội kỹ thuật cơ động và cán bộ đầu mối tại đơn vị sử dụng. Cơ sở chuyên sâu duy trì chuẩn, phát triển phương pháp và xử lý phép đo phức tạp; đội cơ động thực hiện công việc được phép tại hiện trường; đầu mối sử dụng theo dõi tình trạng, kiểm tra thường xuyên và chuyển thiết bị khi cần. Đầu tư nên ưu tiên nhóm có nhu cầu lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định nghiệp vụ và có khả năng sử dụng chung hạ tầng. Với phép đo ít phát sinh hoặc đòi hỏi đầu tư rất lớn, hợp tác với tổ chức chuyên ngành là phương án cần được so sánh về chi phí và chất lượng.
4.3 Kiểm soát độ không đảm bảo đo và chất lượng kết luận
Mỗi phương pháp cần nhận diện các nguồn không đảm bảo đo có ý nghĩa, gồm chuẩn, độ phân giải, độ lặp lại, điều kiện môi trường, gá lắp và mô hình tính toán. Trong đo động còn phải xét đồng bộ thời gian và khả năng tương ứng giữa kết quả với đối tượng. Mức đóng góp phải được đánh giá từ dữ liệu hoặc căn cứ kỹ thuật phù hợp. Việc lựa chọn chuẩn không nên chỉ dựa vào độ phân giải hiển thị; phải xét năng lực của toàn bộ quá trình đo.
Khi đưa ra tuyên bố phù hợp, cần áp dụng quy tắc quyết định theo quy định hoặc phương pháp có thẩm quyền. Trường hợp được phép lựa chọn quy tắc, phải làm rõ cách xét độ không đảm bảo đo và rủi ro chấp nhận hoặc loại bỏ sai; có thể tham khảo ILAC-G8:09/2019 [7]. Quy tắc kết luận chất lượng thiết bị và quy tắc xác định hành vi vi phạm là hai vấn đề khác nhau. Không tự xây dựng mức khấu trừ kết quả hoặc ngưỡng xử lý vi phạm từ giấy hiệu chuẩn khi chưa có căn cứ pháp lý tương ứng.
Để kiểm chứng năng lực, cần tổ chức kiểm tra bằng chuẩn kiểm tra phù hợp, đo lặp, so sánh giữa người thực hiện, so sánh liên phòng hoặc thử nghiệm thành thạo khi khả thi. Kết quả bất thường phải dẫn đến điều tra nguyên nhân, hành động khắc phục và đánh giá phạm vi ảnh hưởng đến công việc trước đó. Việc lưu cả kết quả trước và sau điều chỉnh giúp nhận biết độ trôi và hỗ trợ quyết định về chu kỳ hiệu chuẩn trong phạm vi được phép [8].
4.4 Quản lý chất lượng trong toàn bộ vòng đời thiết bị
Cần thiết lập kiểm soát từ tiếp nhận, đánh giá trước sử dụng, bàn giao, vận hành, bảo trì đến kiểm soát định kỳ và loại khỏi sử dụng. Trước ca công tác, người sử dụng kiểm tra nhận dạng, tình trạng bên ngoài, niêm phong, thời hạn, nguồn điện và chức năng tự kiểm tra theo hướng dẫn áp dụng. Trong ca, ghi nhận bất thường và điều kiện có thể làm mất giá trị phép đo; sau ca, hoàn thiện nhật ký, bảo quản và bàn giao. Kiểm tra thường xuyên có vai trò phát hiện sớm, không thay thế hoạt động kiểm định hoặc hiệu chuẩn bắt buộc.
Khi thiết bị va đập, ngập nước, quá tải, sửa chữa, thay bộ phận đo hoặc cập nhật phần mềm có thể ảnh hưởng đến đặc tính đo lường, cần tạm dừng chức năng liên quan, đánh giá và thực hiện kiểm soát lại theo quy định trước khi sử dụng. Chu kỳ kiểm định bắt buộc phải được tuân thủ. Đối với hiệu chuẩn mà pháp luật không ấn định chu kỳ, có thể xây dựng và rà soát khoảng thời gian dựa trên độ trôi, tần suất, môi trường, khuyến cáo nhà sản xuất và hậu quả sai lệch; không tự kéo dài chu kỳ bắt buộc bằng lý do quản lý theo rủi ro [1,8].
4.5 Số hóa hồ sơ và kiểm soát phần mềm đo lường
Trên cơ sở yêu cầu quản lý tại Điều 5 Thông tư số 150/2026/TT-BCA, cần triển khai hồ sơ điện tử theo mã nhận dạng thống nhất cho từng thiết bị [1]. Dữ liệu cốt lõi gồm số sêri, đơn vị quản lý, chức năng, phạm vi đo, phiên bản phần mềm liên quan, kết quả kiểm soát, thời hạn, lịch sử sửa chữa và người bàn giao. Hệ thống cần có chức năng cảnh báo đến hạn, nhận diện thiết bị tạm dừng và truy xuất trạng thái tại thời điểm phát sinh kết quả đo; việc số hóa phải tuân thủ quy định về hồ sơ, an ninh và bảo vệ dữ liệu.
Đối với thiết bị có phần mềm, cần phân biệt chương trình ảnh hưởng đến kết quả đo với chức năng quản trị thông thường. Thay đổi hệ số, thuật toán hoặc phiên bản có ảnh hưởng phải được nhận diện, ghi nhật ký và đánh giá trước khi chấp nhận. Dữ liệu gốc cần được quản lý quyền truy cập, sao lưu và kiểm tra tính toàn vẹn bằng giải pháp phù hợp. Với hệ thống camera tích hợp AI, phép đo tốc độ thuộc mục 3 Phụ lục I phải được nhận diện riêng với hệ thống giám sát, xử lý vi phạm hoặc camera giám sát tại Phụ lục II. Kết quả kiểm định phần đo tốc độ không mặc nhiên xác nhận độ chính xác của mọi chức năng AI [1,5].
4.6 Đổi mới đào tạo và trách nhiệm bảo đảm chất lượng
Đào tạo cần gắn với thao tác và khả năng nhận biết kết quả mất tin cậy. Người sử dụng phải biết giới hạn của thiết bị, cách kiểm tra trước ca, điều kiện phải dừng đo và nội dung cần ghi nhận. Kiểm định viên, nhân viên hiệu chuẩn, thử nghiệm cần được đánh giá bằng thực hành trên từng phương pháp, được phân công trong phạm vi đã chứng minh năng lực. Nội dung tập huấn phải cập nhật khi có công nghệ hoặc quy trình mới, phù hợp trách nhiệm tại Điều 6 của Thông tư [1].
Đơn vị sử dụng chịu trách nhiệm duy trì trạng thái và cung cấp đúng lịch sử thiết bị; tổ chức kỹ thuật chịu trách nhiệm về phương pháp, chuẩn, dữ liệu và kết luận trong phạm vi thực hiện. Cần có cơ chế rà soát kết quả độc lập với người trực tiếp đo ở công việc có rủi ro cao. Đánh giá chất lượng nên căn cứ hồ sơ và bằng chứng năng lực, tránh tạo áp lực chỉ tiêu về số lượng chứng chỉ hoặc tỷ lệ thiết bị đạt làm ảnh hưởng tính khách quan.
5 Tổ chức thực hiện và đánh giá hiệu quả
Đề xuất triển khai theo ba bước. Bước đầu, trong sáu tháng kể từ khi kế hoạch được phê duyệt, tổ chức kiểm kê và đối chiếu đủ 59 mục với thiết bị thực có; xác định thiết bị đến hạn, thiếu hồ sơ hoặc chưa có phương án kiểm soát. Bước tiếp theo, trong 6-18 tháng, lựa chọn một số phạm vi ưu tiên để chuẩn hóa phương pháp, hoàn thiện năng lực nhân sự, thực hiện so sánh kết quả và thí điểm hồ sơ điện tử. Sau đánh giá thí điểm, mở rộng trong 18-36 tháng theo nhu cầu sử dụng và khả năng bảo đảm nguồn lực. Đây là lộ trình đề xuất của bài viết, không phải thời hạn do Thông tư ấn định.
Thí điểm cần có dữ liệu so sánh trước và sau triển khai. Ưu tiên đo tốc độ, nồng độ cồn, tải trọng; đo áp suất, lưu lượng, khí nguy hiểm cháy, nổ trong PCCC; thiết bị môi trường thường xuyên sử dụng tại địa phương. Mỗi phạm vi phải xác định đầu mối, sản phẩm kỹ thuật, kinh phí duy trì chuẩn và phương án chuyển công việc vượt năng lực. Kết quả thí điểm là căn cứ mở rộng đầu tư.
Bảng 2 Các chỉ số đề xuất theo dõi chất lượng triển khai
|
Chỉ số |
Cách xác định và ý nghĩa |
|---|---|
|
Mức độ bao phủ yêu cầu |
Số mục có hồ sơ đối chiếu kỹ thuật và pháp lý hoàn chỉnh chia cho số mục có thiết bị thực tế; đồng thời theo dõi tình trạng rà soát toàn bộ 59 mục. |
|
Tỷ lệ đúng hạn |
Số thiết bị được kiểm soát đúng thời hạn chia cho số thiết bị đến hạn trong kỳ; phân tách kiểm định, hiệu chuẩn và hoạt động khác. |
|
Chất lượng kết quả kỹ thuật |
Theo dõi kết quả so sánh liên phòng, thử nghiệm thành thạo hoặc kiểm tra nội bộ; phân tích nguyên nhân và mức độ hoàn thành khắc phục. |
|
Khả năng truy xuất |
Tỷ lệ hồ sơ được kiểm tra có thể truy xuất từ bản ghi đo đến thiết bị, trạng thái kiểm soát, người sử dụng và cấu hình liên quan tại thời điểm đo. |
|
Thời gian gián đoạn sử dụng |
Theo dõi trung vị và các trường hợp kéo dài của thời gian từ bàn giao thiết bị đến đủ điều kiện sử dụng lại; xem xét cùng chất lượng kết quả. |
Các chỉ số ở Bảng 2 cần được thiết lập đường cơ sở trước khi giao mục tiêu định lượng. Tỷ lệ đúng hạn cao chỉ có ý nghĩa khi hồ sơ hợp lệ và thiết bị nằm đúng phạm vi đã đánh giá. Ngược lại, tỷ lệ thiết bị không đạt trong một đợt kiểm tra cần được phân tích theo tuổi thiết bị, điều kiện sử dụng và phương pháp; không thể dùng riêng chỉ số này để kết luận đơn vị làm tốt hay làm chưa tốt. Dữ liệu tổng hợp sẽ giúp lựa chọn lại ưu tiên đầu tư và cập nhật phương pháp phù hợp hơn với thực tế.
6 Kết luận
Đổi mới công tác kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong Công an nhân dân cần bắt đầu từ việc xác định đúng yêu cầu cho từng mục tại Phụ lục I Thông tư số 150/2026/TT-BCA. Đóng góp của cách tiếp cận được đề xuất là kết nối danh mục pháp lý với phạm vi năng lực kỹ thuật, điều kiện sử dụng và khả năng truy xuất kết quả. Bảy nhóm kỹ thuật giúp bố trí chuẩn, nhân lực và hạ tầng dùng chung, trong khi mỗi thiết bị vẫn được kiểm soát theo đúng chức năng và quy định áp dụng.
Ưu tiên thực hiện là hoàn thiện hồ sơ đối chiếu, duy trì liên kết chuẩn, đánh giá độ không đảm bảo đo, kiểm soát trạng thái trong vòng đời và quản lý phần mềm, dữ liệu có ảnh hưởng đến kết quả. Hiệu quả của các giải pháp cần tiếp tục được kiểm chứng bằng dữ liệu thí điểm tại đơn vị sử dụng và phòng thí nghiệm. Khi chất lượng được chứng minh bằng hồ sơ kỹ thuật và kết quả đánh giá, hoạt động đo lường sẽ có cơ sở vững chắc hơn để phục vụ phát hiện, xử lý vi phạm khách quan, chính xác trong Công an nhân dân.
10/2026
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Công an (2026). Thông tư số 150/2026/TT-BCA ngày 28/8/2026 quy định Danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính phải kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, so sánh trước khi đưa vào sử dụng trong Công an nhân dân. Điều 3-7 và Phụ lục I, II.
[2] JCGM (2012). JCGM 200:2012 International Vocabulary of Metrology - Basic and General Concepts and Associated Terms (VIM), 3rd edition. BIPM.
[3] TCVN ISO/IEC 17025:2017. Yêu cầu chung về năng lực của các phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn. Tương đương ISO/IEC 17025:2017.
[4] Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (2023). ĐLVN 157:2023 Phương tiện đo kiểm tra tốc độ phương tiện giao thông - Quy trình kiểm định.
[5] OIML (2025). OIML R 91-1:2025 Traffic speed meters - Part 1 Metrological and technical requirements.
[6] OIML (2021). OIML R 126-1:2021 Evidential breath analysers - Part 1 Metrological and technical requirements.
[7] ILAC (2019). ILAC-G8:09/2019 Guidelines on Decision Rules and Statements of Conformity.
[8] ILAC/OIML (2022). ILAC-G24:2022/OIML D 10:2022 Guidelines for the determination of recalibration intervals of measuring equipment.
(Nguồn tin: Ban BT)









